T
T
Làng Phú Lễ

DANH NHÂN  VÀ LỊCH SỬ

   Theo dòng lịch sử, cùng với việc hình thành và phát triển của Làng, Làng Phú Lễ gắn liền với bao thăng trầm của lịch sử từ thời phong kiến, Cách Mạng và xây dựng đất nước hôm nay.

Đời vua Quang Trung

- Cuối năm 1774 khi quân Chúa Trịnh tiến đánh Phú Xuân của Chúa Nguyễn, đoàn quân đã vượt qua sông Bồ  khoảng lưu vực làng Phú Lễ.

- Năm 1788 vua Quang Trung (Nguyễn Huệ lên ngôi) đích thân đốc quân đại phá quân Thanh, giải phóng Thăng Long, vô số trai tráng trong làng nhập ngũ tòng chinh và đoàn đại quân cũng vượt sông Bồ thẳng tiến ra Bắc.

Đời Vua Gia Long

- Triều Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi với vương hiệu Gia Long, là lúc nhiều nhân sĩ trí thức trong làng ra làm việc nước.

- Đầu tiên phải kể đến vị quan nổi tiếng Trương Văn Uyển, đã làm quan nhiều nơi: Án Sát Quảng Nam, Bố Chính Quảng Nghĩa, Tổng Đốc Định Tường và Vĩnh Long, Tuần Phủ Bắc Ninh, Tổng Đốc Ninh Thái..; Ông là người “khai sinh” tên làng qua việc dâng sớ xin vua Minh Mạng đổi tên từ Bái Đáp thành Phú Lễ. Khoảng từ 1836 đến 1848 Tổng đốc Trương Văn Uyển đã quyên góp tiền lộc, của cải để tu bổ đình, chùa làng, đúc chuông cúng dường …Hiện nay trên chuông cổ trong chùa làng Phú Lễ- chùa Quang Bảo còn khắc ghi:

  Tự Đức nguyên niên thập nhị nguyệt nhị thập nhật.

  Tuần phủ Bắc Ninh, Hộ lý Ninh Thái

  Tổng đốc quan phòng Trương Văn Uyển tạo cúng.

  Kích thước chuông cũng được ghi rõ:

  Phú Lễ tự chung

  Cao 2 thước 6 tấc 5 phân

  Lưng tròn 3 thước 1 tấc

  Tĩnh trọng 180 cân dư.

Bài văn đầy đủ khắc trên chuông đã được dịch và in trên sách “Các bài văn trên chuông ở Việt Nam”.

Một công trình dân sinh thân thuộc là cống đá trên hương lộ chính cũng được Tổng Đốc Uyển cho xây dựng năm1840, gần 100 năm sau cống này được bà Trần Bá Thị Lan cải tạo lại (1936) từ đó mang tên “Cống bà Lan”  cho đến ngày nay.

Chính Tổng Đốc Trương Văn Uyển là thân sinh của Phò mã Trương Văn Chức của vua Thiệu Trị, vì thế trước năm 1945 cái bến nước trên sông Bồ khoảng trước nhà thờ họ Trương được đặt tên là “Bến Công chúa”. Phò mã Trương Văn Chức sau này có tham gia “giặc chày vôi”-cuộc nổi dậy của anh em Đoàn Trưng, Đoàn Trực- chống việc xây lăng tốn kém, dân tình lầm than, khổ sở của vua Tự Đức. Cuộc khởi nghĩa (nổi loạn) thất bại, Phò mã Trương Văn Chức bị buộc tội chết theo “tam ban triều điển”, tức là phải chọn một trong ba cách chết (1) thắt cổ bằng một giải lụa,(2) tự đâm chết bằng gươm và (3) uống thuốc độc tự vẫn. Mộ phần Tổng Đốc Trương Văn Uyển và Phò mã Trương Văn Chức hiện còn ở làng. Riêng bà Công chúa sau khi chồng chết trở về lại Huế và khi mất được mai táng trong phần mộ của Hoàng gia triều Nguyễn.

-  Đại thi hào Nguyễn Du cũng có duyên nợ với làng Phú Lễ: Số là vào năm Gia Long thứ 5 (1806), Nguyễn Du được triệu vào kinh đô Huế giữ chức Đông Các Đại Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình. Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Đại Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa và tháng 4 năm Giáp Tuất (1814) khi trở về Kinh ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), Nguyễn Du sắp sửa đi sứ Trung Hoa lần nữa, nhưng bị bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, hưởng dương 56 tuổi. Trong thời gian làm việc ở Huế đã có lần Tố Như tiên sinh đi dã ngoại dọc bờ bắc sông Bồ ngang qua làng Phú Lễ và khi dừng chân trước bến đò Hạ Lang, ngắm cảnh làng Hương Cần ở bờ bên kia sông Bồ, ngài có ứng khẩu làm thơ:

  Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh,

  Giang bắc, giang nam vô hạn tình.

  Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc,

  Cố hương thuần lão thượng cam khanh.

  Triều đình hữu đạo thành quân hiếu,

  Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh.

  Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh,

  Mãn sàn trệ vũ bất kham thinh.

  Bản dịch Việt ngữ của Vĩnh Ba

  Đường cái Hương Cần xanh liễu xanh,

  Người Nam kẻ Bắc xót xa tình.

  Vườn vua mặc lũ oanh ganh tiếng,

  Quê cũ rau thuần quen nấu canh.

  Hiếu sự bạn tròn: Triều có đạo,

  Ước thề tôi phụ: Nghĩa không thành.

  Canh khuya đối bóng thêm buồn bã,

  Mưa muộn bên giường nghe hãi kinh.

Đời vua Tự Đức

- Thượng thư Nguyễn Xuân Triêm, vị quan cũng đầu tư nhiều công đức trong việc tu bổ đình, chùa, miếu mạo. Đặc biệt hiện nay ở chùa Quang Bảo, chùa làng Phú Lễ, đang còn lưu lại nhiều dấu tích vị Thượng thư đáng kính này như con ngựa gỗ và các bài văn…

- Tả quân Đô Úy dinh Thần Cơ Trần Bá Nam.

- Cai đội Mỹ Triều Hầu Trần Bá Cơ.

Đời vua Hàm Nghi

- Năm 1885, khi phò vua Hàm Nghi bỏ kinh thành Huế chạy ra Tân Sở, Quảng Trị đội quân thủ túc trong phong trào Cần Vương của Tôn Thất Thuyết đã vượt sông Bồ ở bến đò làng Hạ Lang, bây giờ là vị trí cầu Tứ Phú (nối Thị trấn Tứ Hạ với Xã Quảng Phú), sau đó băng qua hương lộ làng Phú Lễ để theo hướng bắc chạy ra chiến khu Tân Sở.

Giai đoạn Cách mạng

- Khoảng những năm 20-30 của Thế kỷ XX,  Cụ Nguyễn Sinh Khiêm, anh cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có sinh sống bằng nghề thầy thuốc Nam và lấy vợ là người làng Phú Lễ, thời đó dân làng vẫn quen gọi Cụ là “Ông Thầy Nghệ”; không may những người con của Cả Khiêm đều chết khi còn nhỏ.

- Năm 1947 khi mặt trận Huế vỡ, nhiều thiếu niên trong làng được đưa ra miền Bắc học tập.

Ngoài những vị quan chức nổi tiếng trong thời quân chủ nêu trên, trong thời cận và đương đại làng Phú Lễ cũng là nơi sản sinh nhiều nhà khoa học cho đất nước, những vị khoa bảng xuất sắc có thể kể:

- Kỹ sư Trần Bá Hoàng (Công chánh, Kiến trúc). Đây là một Kỹ sư Đông dương đầu tiên của làng. Ông học rất xuất sắc tại Hà Nội, là bạn đồng môn với Hoàng thân Souvanuvong của Lào. Kỹ sư Trần Bá Hoàng còn để lại nhiều công trình giao thông công chánh nổi tiếng trên toàn quốc.

- Kỹ sư Trần Bá Luận (Công chánh, Dệt may). Là một kỹ sư trẻ đầy tài năng của Phú Lễ. Từ lúc còn rất trẻ Ông đã mở xưởng dệt vải rất lớn ở làng -Xưởng dệt Trần Bá Luận, thiết kế và xây dựng cống Bà Lan trên hương lộ chính dọc sông Bồ của làng, cho đóng tàu thủy và sắm ô tô để kinh doanh vận tải đường thủy và đường bộ, canh tác đồn điền ở Việt Nam và cả bên Lào…Tiếc rằng “tài vận tương đố”, Ông mất quá sớm khi chưa có kẻ nối dõi tông đường, mộ phần hiện được “đại gia đình” phụng lập ở nghĩa trang Cồn Bại, dưới bóng cây Thổ giác độc đáo của Phú Lễ.

- Giáo Sư . Tiến Sỹ. Nhà giáo Ưu Tú: Trần Đình Sử : Sinh năm 1940 Nơi công tác: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (đã nghỉ hưu)

- Giáo Sư Nguyễn Xuân Nam (Văn học). Là Giáo Sư Lý luận văn học rất nổi tiếng của Đại Học Sư Phạm Hà Nội, tham gia viết Từ điển văn học Việt Nam cũng như nhiều sách giáo khoa, chuyên khảo khác.

- GS. TSKH  Nguyễn Xuân Chánh (Vật lý). Nhà vật lý chất rắn đầu đàn của Việt Nam. Giáo Sư Nguyễn Xuân Chánh là Viện trưởng Viện Vật Lý Kỹ Thuật Việt Nam. Nhiều năm là Giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, nhiều lần đi công tác ở Anh, Hà Lan, Mỹ…

- Giáo Sư  Trần Bá Đệ (Sử học): Đồng tác giả nhiều sách giáo khoa lịch sử đang được sử dụng trong chương trình Phổ thông Trung học

- GS.TSKH Trần Bá Chữ ( Vật lý). Đang giảng dạy ở trường Kiểu Mẫu Huế, Giáo Sư Trần Bá Chữ thoát ly ra Bắc rồi tiếp tục đi học tập, nghiên cứu nước ngoài…Giáo Sư là đầu ngành vật lý Laser của Viện Khoa học Quân sự Việt Nam.

- Kỹ sư Trần Bá Thái (CNTT), Phó chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam, Chủ tịch & sáng lập viên Công ty NetNam, 2007 được Báo Bưu điện Việt Nam và Câu lạc bộ Nhà báo Công nghệ thông tin Việt Nam ghi nhận là kỹ sư đầu tiên đưa Internet vào Việt Nam và bầu một trong 10 nhân vật ảnh hưởng nhất Internet Việt Nam.

- TS Trần Bá Thoại (Y khoa). Học Y khoa Huế, Sài Gòn và Hà Nội. Giảng viên Đại học Y Huế, Đại học Đà Nẵng, Ủy viên BCH Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam.

 (Tập hợp từ Blog của TS Trần Bá Thoại)